Dùng tiền đè bẹp đối thủ, Trung Quốc vươn “vòi bạch tuộc” nguy hiểm tới vùng biển rộng hơn cả lãnh thổ Nga

TOPSHOT - China's sole aircraft carrier, the Liaoning (R), arrives in Hong Kong waters on July 7, 2017, less than a week after a high-profile visit by president Xi Jinping. China's national defence ministry had said the Liaoning, named after a northeastern Chinese province, was part of a flotilla on a "routine training mission" and would make a port of call in the former British colony. / AFP PHOTO / Anthony WALLACE (Photo credit should read ANTHONY WALLACE/AFP/Getty Images)

Trung Quốc không chỉ giành ảnh hưởng thông qua sáng kiến Vành đai Con đường, mà còn hướng mục tiêu tới nhiều vùng chiến lược khác trên thế giới.

Với các bờ biển ngập tràn ánh nắng, còn vẹn nguyên vẻ hoang sơ, khu vực các quần đảo ở Thái Bình Dương là điểm đến hấp dẫn với nhiều du khách trên thế giới. Tuy nhiên, cùng lúc đó, đây cũng là “chiến trường” nơi Trung Quốc và Australia đang cố gắng giành ảnh hưởng thông qua các hoạt động đầu tư, trợ cấp.

Đầu tư nước ngoài không còn là điều lạ lẫm đối với các hòn đảo này. Theo thống kê, 14 đảo quốc ở vùng Thái Bình Dương quản lý vùng biển có tổng diện tích còn lớn hơn cả lãnh thổ Nga. Tuy không còn chịu sự quản lí từ các chính phủ thuộc địa như trong quá khứ, nhưng hiện tại hầu hết các nước này đều phát triển kinh tế rất chậm và là khu vực phụ thuộc vào trợ cấp nhiều nhất trên thế giới.

Trong nhiều thập kỉ, Australia đã là “nhà tài trợ” hào phóng nhất. Đây là điều dễ hiểu khi xét tới việc Australia là quốc gia giàu có nhất Châu Đại Dương và gần 206.700 công dân cho rằng họ có tổ tiên là người thuộc các quốc đảo Thái Bình Dương trong thống kê năm 2016.

Nhưng trong những năm gần đây, Trung Quốc cũng trở thành một quốc gia có ảnh hưởng không nhỏ trong khu vực.

Tổng cộng, chỉ có dưới 10 triệu người hiện đang sinh sống tại các quần đảo Thái Bình Dương – ít hơn cả dân số của Thụy Điển. Tổng GDP của khu vực chỉ vào khoảng 33,77 tỉ USD, ít hơn 1% tổng GDP của Trung Quốc.

Dùng tiền đè bẹp đối thủ, Trung Quốc vươn vòi bạch tuộc nguy hiểm tới vùng biển rộng hơn cả lãnh thổ Nga - Ảnh 1.

Chỉ có gần 10 triệu người sinh sống tại 14 quốc đảo Thái Bình Dương. Ảnh: CNN

Tuy vậy, điều đó cũng không ngăn được các dòng tiền liên tục “đổ bộ” với mục tiêu xây cầu, đường, và một sân bay.

Tại Australia, nhiều nhà phân tích lo ngại rằng tầm ảnh hưởng của Australia đang bị đe dọa.

Michael O’Keefe, một chuyên gia về đối ngoại ở Đại học La Trobe (Melbourne), nói:“Australia chắc chắn phải rất quan ngại về mức độ đầu tư từ Trung Quốc”.

Từ khi nhậm chức, thủ tướng Morrison đã đặt quần đảo Thái Bình Dương làm ưu tiên hàng đầu. Khi tuyên bố đầu tư khoản tiền trị giá 1,5 tỉ USD để xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu vực vào tháng 11 năm ngoái, ông Morrison nói: “Không thể lúc nào cũng nghĩ rằng Australia đương nhiên có tầm ảnh hưởng tại Tây Nam Thái Bình Dương được. Nhưng đáng buồn thay, tôi nghĩ chúng ta thường xuyên nghĩ như vậy”.

Trung Quốc đang làm gì ở Nam Thái Bình Dương?

Trung Quốc đang có cách tiếp cận khu vực rất khác Australia.

Trong quá khứ, Australia đã đầu tư vào y tế, giáo dục và chính quyền ở quần đảo Thái Bình Dương – đây là những điều cơ bản nhất để xây dựng mỗi quốc gia.

Nhưng cách tiếp cận của Australia không đạt được những ảnh hưởng như kì vọng. Mặc dù Australia – cùng nhiều nước khác – đã viện trợ vùng này trong nhiều năm, nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn không có nhiều tiến triển. Một phần nguyên do là bởi vì các đảo có vị trí địa lí quá cách xa nhau, dân số quá ít, lại đứng trước nguy cơ cao bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên.

Theo World Bank, tại hầu hết các quốc gia thuộc quần đảo Thái Bình Dương, hơn 20% dân số không thể tự chi trả cho những nhu cầu thiết yếu nhất.

Điều này đã đặt ra những câu hỏi lớn về sự hiệu quả của viện trợ.

Dùng tiền đè bẹp đối thủ, Trung Quốc vươn vòi bạch tuộc nguy hiểm tới vùng biển rộng hơn cả lãnh thổ Nga - Ảnh 2.

Trung Quốc và Australia tăng cường cạnh tranh tầm ảnh hưởng. Ảnh: CNN

Trong các tài liệu năm 2003 và 2010, nhà kinh tế học Australia Helen Hughes nói: “Viện trợ đã thất bại ở Thái Bình Dương bởi nó đã vô hiệu hóa lĩnh vực tư nhân, làm ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế và việc làm”.

Ngược lại, các nhà kinh tế học Matthew Dornan và Jonathan Pryke, giám đốc của Chương trình Quần đảo Thái Bình Dương ở Học viện Lowy, cho rằng viện trợ đã “nâng mức sống vượt xa mức mà người dân có thể có”.

Trong khi đó, Bắc Kinh lại đầu tư theo hướng khác. Dữ liệu từ Học viện Lowy về 8 quốc gia nơi Australia và Trung Quốc đều đầu tư vốn cho thấy Trung Quốc hầu hết đều đầu tư vào cơ sở hạ tầng trong khi các dự án lớn nhất của Australia lại không liên quan gì đến xây dựng cơ sở hạ tầng.

Ví dụ, tại Papua New Guinea, Trung Quốc đã hoàn thiện việc nâng cấp đường trị giá 85 triệu USD vào năm 2017. Cùng lúc, Australia tiêu một khoản 219 triệu USD cho dự án đầu tư các loại thuốc men thiết yếu ví dụ như vắc-xin, tăng cường giáo dục y tế, đặc biệt về việc lây lan HIV/AIDS.

Năm 2018, Bộ trưởng Phát triển Quốc tế và Nam Thái Bình Dương của Australia là Concetta Fierravanti-Wells đã chỉ trích Trung Quốc vì đầu tư xây dựng “các công trình vô dụng” mà các quốc đảo này không thể trả hết nợ. Trung Quốc đã phản ứng mạnh và cho rằng lời nhận định của bà “đầy định kiến và thiếu phân minh”.

Một điểm khác biệt nữa giữa Australia và Trung Quốc là cách thức tiền được đầu tư tại vùng biển này.

Trong khi Australia chi các khoản tiền bằng cách viện trợ không hoàn lại, thì hầu hết các khoản tiền Trung Quốc đầu tư đều dưới hình thức vay nợ.

Nhiều khoản vay Trung Quốc đã tới đây vào khoảng năm 2006 tới năm 2010 – thời kì “cơn sốt vàng” khi Trung Quốc tăng cường cho vay trên khắp thế giới, bao gồm ở Châu Phi. Các khoản vay đều có thời hạn trả là từ 5 năm tới 10 năm. Tới nay, vẫn không có dữ liệu nào cho thấy các nước Thái Bình Dương đã hoàn thành việc trả nợ.

Đầu năm nay, Đại sứ Mỹ tại Australia, Arthur B. Culvahouse, đã mô tả hoạt động đầu tư của Trung Quốc tại Thái Bình Dương là “ngoại giao vay nợ” – cố tình gài các nước này nhận những khoản nợ không ổn định nhằm đổi lấy ảnh hưởng chính trị. Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence cũng đồng ý với quan điểm này.

Tuy nhiên trong năm ngoái, các nhà nghiên cứu Australia phát hiện rằng mặc dù Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất trong khu vực, chỉ có Tonga là nơi vay nhiều nợ của Trung Quốc nhất. Tại một số quốc gia khác, vay nợ đa phương mới là khoản nợ lớn nhất.

Dùng tiền đè bẹp đối thủ, Trung Quốc vươn vòi bạch tuộc nguy hiểm tới vùng biển rộng hơn cả lãnh thổ Nga - Ảnh 3.

Australia chủ yếu đầu tư vào giáo dục, chính phủ, y tế trong khi Trung Quốc đầu tư vào đường xá, cơ sở hạ tầng, cầu cảng…

Nhiều nước khác cũng chào đón đầu tư Trung Quốc. Vanuatu đã nhận 80 triệu USD để xây cầu cảng và đã cảm ơn chính phủ Trung Quốc vì không có nhà đầu tư nào nhận lời giúp đỡ quốc gia này.

Mới đây, Thủ tướng Papua New Guinea James Marape nói nước này rất cởi mở đối với các nhà đầu tư trên khắp thế giới.

“Dù họ tới từ Trung Quốc, Australia, hay từ phía bên kia thế giới, thì cũng chẳng có gì khác biệt và đó không phải vấn đề lớn,” ông nói.

Tại sao Trung Quốc đầu tư vào vùng Thái Bình Dương?

CNN cho rằng đây là “câu hỏi trị giá hàng tỉ USD”: Tại sao Trung Quốc lại rót tiền vào những quốc gia nằm biệt lập, có nền kinh tế nhỏ và không có khả năng trả nợ?

Phía Trung Quốc nói họ làm việc này là vì lòng tốt.

Ngoại giao Trung Quốc nói: “Trung Quốc – dựa trên lợi ích chung, bình đẳng và những nguyên tắc ổn định – sẽ tiếp tục cung cấp hỗ trợ thiết yếu cho các quốc gia thuộc Quần đảo Thái Bình Dương mà không đòi hỏi tới bất kì đáp ứng nào liên quan tới chính trị. Việc Trung Quốc cải thiện đời sống người dân ở vùng này đã được công nhận rộng rãi.”

“Viện trợ của Trung Quốc tốt hay xấu? Đó là ‘bẫy nợ’ hay ‘miếng bánh từ trên trời rơi xuống’? Các quốc đảo và người dân tại đây là những người có câu trả lời đáng tin cậy nhất,” phát ngôn viên Trung Quốc khẳng định.

Theo CNN, có những lí do kinh tế để lí giải cho việc Trung Quốc đầu tư tại Nam Thái Bình Dương, đặc biệt là nguyên liệu thô.

Nhiều đảo ở vùng Nam Thái Bình Dương có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên như gỗ, khoáng sản và cá. Từ năm 2011, Bắc Kinh đã đầu tư vào Papua New Guinea nhiều hơn bất kì quần đảo nào khác. Đây là vùng có rất nhiều mỏ vàng, mỏ niken, khí hóa lỏng tự nhiên và gỗ.

Một chuyên gia về Châu Á – Thái Bình Dương tại Đại học Quốc gia Australia cho rằng Trung Quốc cũng muốn hỗ trợ những người Trung Quốc đang sinh sống tại các quốc gia này.

Số liệu cho thấy mặc dù có không nhiều người Trung Quốc sống tại đây, nhưng tới năm 2006 đã có khoảng 80.000 người Trung Quốc tại các quần đảo ở Thái Bình Dương.

Dùng tiền đè bẹp đối thủ, Trung Quốc vươn vòi bạch tuộc nguy hiểm tới vùng biển rộng hơn cả lãnh thổ Nga - Ảnh 5.

Người dân Papua New Guinea chào đón Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào năm 2018. Tấm biểu ngữ ghi dòng chữ cảm ơn ông Tập vì đã xây dựng trường học cho người dân ở đây. Ảnh: AFP

Một số là hậu duệ của những thương nhân Trung Quốc từng làm ăn ở khu vực từ những năm 1800, còn những người khác là người tới tham gia các dự án xây dựng của Trung Quốc.

Những năm 2000, khi những cuộc biểu tình phản đối người Trung Quốc nổ ra dữ dội ở Quần đảo Solomon, Papua New Guinea và Tonga, Bắc Kinh đã phải điều máy bay tới chuyển 200 người Trung Quốc về nước. Có nhiều lí do đằng sau các cuộc biểu tình. Ví dụ tại Papua New Guinea, lí do là nhiều người lao động có ác cảm với các chủ doanh nghiệp Trung Quốc.

Bắc Kinh đã cố gắng cải thiện mối quan hệ với người dân địa phương, thay đổi chiến lược từ đưa người Trung Quốc sang thuê nhiều lao động địa phương hơn. Bên cạnh đó, tất nhiên cũng có những lí do đối ngoại để Trung Quốc “nhòm ngó” khu vực này.

Những vấn đề đối ngoại

Đầu tiên phải kể tới căng thẳng ngoại giao đối với vùng lãnh thổ Đài Loan. Chỉ có 16 quốc gia và Tòa Thánh chính thức thừa nhận Đài Loan là quốc gia độc lập, và 6 trong số đó là các nước ở vùng Nam Thái Bình Dương. Trong nhiều năm, Trung Quốc đã cố gắng giành lấy các đồng minh của Đài Loan và thúc giục họ chấp nhận chính sách “Một Trung Quốc”.

Trong số 6 nước kể trên, 3 nước có mối quan hệ khăng khít với Mỹ – quốc gia có “quan hệ không chính thức cực kì gắn bó” với Đài Loan.

Đài Loan cũng đầu tư vào vùng Nam Thái Bình Dương. Trong khoảng năm 2011 tới năm 2017, Đài Loan đã chi một khoản trị giá 215,87 triệu USD – trong khi Trung Quốc chi 1,21 tỉ USD – cho vùng này.

Dù nhận đầu tư từ cả hai, nhưng trong năm ngoái Papua New Guinea đã cắt đứt quan hệ với Đài Loan. Đài Bắc cho rằng đây là hệ quả do áp lực từ Bắc Kinh.

Dùng tiền đè bẹp đối thủ, Trung Quốc vươn vòi bạch tuộc nguy hiểm tới vùng biển rộng hơn cả lãnh thổ Nga - Ảnh 6.

Các quốc gia (chấm màu đỏ) thừa nhận Đài Loan. Ảnh: CNN

Quần đảo Solomon – vốn thừa nhận Đài Loan – sẽ phải quyết định liệu có cắt đứt quan hệ với Đài Loan không trong vài tháng tới. Cựu Thủ tướng Gordon Darcy Lilo nói việc thay đổi quan hệ đối ngoại có thể tăng cường đầu tư vào đất nước này. Dù Đài Loan có đầu tư vào Solomon, nhưng Trung Quốc mới là đối tác thương mại hàng đầu.

Có những lí do khác về việc tại sao Trung Quốc muốn các nước thuộc quần đảo Thái Bình Dương làm đồng minh. Mặc dù tổng số cư dân ở 14 quốc đảo chỉ bằng cư dân tại một thành phố của Trung Quốc, nhưng quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc của các nước này lại rất đáng kể. Mặc dù nhỏ bé, nhưng các quốc gia Thái Bình Dương có thể là những đồng minh “quyền lực”.

Nguyên do khác là gì?

CNN cho rằng, các hòn đảo có thể là địa điểm để xây dựng căn cứ quân sự tương lai.

Tháng 4/2018, tờ Sydney Morning Herald thông báo rằng các quan chức từ Trung Quốc và Vanuatu đã bàn thảo về việc hiện diện quân sự vô thời hạn tại các hòn đảo. Cả Bắc Kinh và Vanuatu đã phủ nhận thông tin này.

Một căn cứ quân sự của Trung Quốc có thể sẽ được coi là vấn đề lớn với Mỹ – quốc gia vốn hiện diện tại Nam Thái Bình Dương từ Thế Chiến 2.

Mỹ hiện vẫn có những căn cứ quân sự trên một số đảo, ví dụ như Guam và đảo Marshall.

Các dãy đảo trải dài từ Nhật Bản tới Đài Loan và Philippines; từ Nhật Bản tới Guam và Palau được gọi là chuỗi đảo thứ nhất và chuỗi đảo thứ hai. Các học giả và những chuyên gia quân sự cho rằng chiến lược chuỗi đảo là thứ giúp Mỹ kiềm chế Trung Quốc trong việc giành vị trí chiến lược trong khu vực.

Một báo cáo về an ninh kinh tế vào năm 2018 nhận định rằng một căn cứ quân sự Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương có thể sẽ ngăn cửa ngõ quân sự Mỹ tại khu vực và có thể ảnh hưởng tới các đối tác chiến lược – bao gồm New Zealand và Australia.

“Sự phát triển như vậy có thể sẽ mở rộng tầm ảnh hưởng và năng lực giám sát của Trung Quốc trong khu vực, giúp Bắc Kinh kiềm chế hiện diện quân sự Mỹ trong khu vực,” tác giả báo cáo viết.

Căn cứ quân sự Trung Quốc tại Nam Thái Bình Dương cũng có thể gây ra những quan ngại về an ninh đối với Australia.

3 trong số 5 tuyến đường giao thương hàng hải chính của Australia đi qua Thái Bình Dương. Thậm chí nếu Trung Quốc không đe dọa các tuyến này, thì sự hiện diện của quân đội Trung Quốc cũng có thể gây ra không ít vấn đề trong tương lai và đem lại những tổn hại nghiêm trọng cho kinh tế Australia.

Dùng tiền đè bẹp đối thủ, Trung Quốc vươn vòi bạch tuộc nguy hiểm tới vùng biển rộng hơn cả lãnh thổ Nga - Ảnh 8.

Người Trung Quốc ở Fiji chào đón tàu y tế của Hải quân Trung Quốc vào năm 2014. Ảnh: Xinhua

Một căn cứ quân sự Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương có thể “sẽ thay đổi toàn diện” cách Australia nhìn nhận về quốc phòng và an ninh quốc gia. Trong cuộc khảo sát năm ngoái, 55% người dân Australia được hỏi tin rằng nếu Trung Quốc mở một căn cứ quân sự tại một đảo ở Thái Bình Dương thì đó sẽ là mối đe dọa nghiêm trọng đối với lợi ích then chốt của Australia.

Australia và Mỹ có những kế hoạch quân sự của riêng mình. Năm ngoái, Mỹ, Australia và Papua New Guinea đã thông báo sẽ hợp tác để phát triển lại căn cứ hải quân trên đảo Manus của Papua New Guinea. Trong Thế Chiến 2, đảo này là nơi Nhật Bản đặt căn cứ quân sự và đã bị quân Đồng minh chiếm lại.

Chủ tịch Hội đồng Quản trị Khu vực Tư nhân quần đảo Thái Bình Dương Stephen Lyon – hiện sống ở Quần đảo Cook – tin rằng hầu hết các quốc đảo Thái Bình Dương đều không muốn tiến hành quân sự hóa.

Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu về tăng trưởng và nghèo đói có trụ sở ở Fiji cho biết nếu có một thỏa thuận cùng có lợi, ông không nghĩ các quốc đảo Nam Thái Bình Dương sẽ nói “không” với một căn cứ của Trung Quốc – hoặc của Australia.

“Tôi không hoàn toàn loại bỏ phương án về một căn cứ quân sự tại một quốc đảo tại Thái Bình Dương,” ông nói.

Mối lo ngại của Australia

Đối với Trung Quốc, khoản đầu tư đối với các quốc đảo Thái Bình Dương khá nhỏ so với sáng kiến Vành đai Con đường.

Bắc Kinh đã đầu tư hơn 1,2 tỉ USD tại 14 quốc gia Nam Thái Bình Dương trong khoảng năm 2011 tới năm 2017. Trong khi đó, chỉ riêng năm ngoái, Trung Quốc đã cam kết viện trợ, đầu tư và cho vay 60 tỉ USD cho các nước Châu Phi.

Cùng thời kì đó, Australia đã đầu tư 6,3 tỉ USD viện trợ cho Nam Thái Bình Dương. Australia có lí do để đầu tư cho vùng này. Từ những năm 1950, Australia đã có thỏa thuận với Mỹ và New Zealand về việc chịu trách nhiệm an ninh cho các quốc đảo Thái Bình Dương. Nếu một quốc đảo gặp khủng hoảng, thì có khả năng cao Australia sẽ tham gia trợ giúp.

Điều đó cũng đồng nghĩa rằng Australia có nhiều điều để mất.

Bất kì một cuộc khủng hoảng hoặc mâu thuẫn nào cũng có thể làm dòng người tị nạn đổ xô tới Australia hoặc cần tới việc điều động quân đội. Sau khoảng thời gian bạo lực sắc tộc trên Quần đảo Solomon, Australia cần chi tới một khoản trị giá 1,96 tỉ USD cho chương trình bình ổn kéo dài 14 năm.

“Chúng ta là cường quốc tại Thái Bình Dương và việc chúng ta làm tròn vai trò ấy là rất quan trọng,” Michael Keenan, Bộ trưởng Tư pháp Australia khi đó, phát biểu khi chương trình kết thúc.

Khi được hỏi liệu Australia có cần quan tâm đến vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc hay không, và tại sao Australia tăng cường nỗ lực trong khu vực, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc nói rằng đó là vì lợi ích quốc gia của đất nước trong việc thúc đẩy sự ổn định, an ninh và thịnh vượng của khu vực Thái Bình Dương.

“Thái Bình Dương cần những khoản đầu tư khổng lồ, và Australia chào đón mọi khoản đầu tư giúp hỗ trợ phát triển ổn định cũng như đi cùng với các ưu tiên và mục tiêu của các nước Thái Bình Dương. Ngoài ra, những khoản này cũng cần được chuyển giao minh bạch và không có nguy cơ nợ nặng nề,” phát ngôn viên nói.

Các quốc đảo nghĩ gì?

Mặc dù Nauru (đồng minh Đài Loan) đã công khai từ chối đầu tư Trung Quốc, rất nhiều các quốc gia Thái Bình Dương khác đã đón nhận nguồn tiền này. “Chúng tôi thực lòng rất biết ơn,” chính trị gia Fiji Ratu Epeli Nailatikau nói đầu năm nay.

Một chuyên gia trên đảo Cook cho biết, xét cho cùng, các đảo quốc Thái Bình Dương đều là những quốc gia tự chủ và trực tiếp quyết định chính sách đối ngoại của mình. Do đó, ý nghĩ rằng các cường quốc bên ngoài có thể ảnh hưởng tới họ như trong quá khứ là “ý tưởng lỗi thời”.

“Các đảo quốc Thái Bình Dương chào đón đầu tư bất kể từ đâu. Tại thời điểm này, tôi nghĩ rằng sẽ chỉ có lợi ích đối với vùng Thái Bình Dương,” ông nói.